Tìm Việc Nhanh Cà Mau - 24H Tuyển Dụng Cà Mau - Tuyển Dụng Mới Nhất Cà Mau
Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016
Giá vàng ở trong nước rớt mạnh theo thế giới
Mở cửa lúc 8h15, giá vàng miếng SJC được Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI giao dịch ở ngưỡng 33,67 – 33,73 triệu đồng một lượng.
Mỗi lượng vàng miếng SJC mất cả trăm nghìn đồng sau khi giá thế giới giảm mạnh vì thông tin FED có thể hạ lãi suất
So với đóng cửa chiều qua, mỗi lượng vàng mất 100.000 đồng ở cả hai chiều mua bán. Trong khi đó, tại Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), giá mua vào được doanh nghiệp này niêm yết ở 33,57 triệu nhưng bán ra ở 33,8 triệu đồng mỗi lượng.
Mỗi lượng vàng miếng SJC giảm còn 33,73 triệu đồng. Ảnh: Lệ Chi.
|
Đà giảm của giá vàng trong nước mạnh hơn nhiều so với hôm qua, chủ yếu do giá thế giới mất hơn 10 USD trước thông tin Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có thể lại nâng lãi suất vào cuối năm. Đến 9h, tại phiên châu Á, mỗi ounce vàng giao dịch ở 1.146,4 USD. Như vậy, quy đổi tiền Việt, mỗi lượng vàng có giá khoảng 30,9 triệu đồng (nếu chưa kể thuế, phí gia công).
Trước đó hôm qua 29/10, thị trường điều chỉnh khá cầm chừng. Theo DOJI, mỗi khi mức giá mới được lập hôm qua, nhu cầu bán ra bị hạn chế lại do lượng vàng trong lưu thông không dồi dào. Thay vào đó, lượng khách mua vào tăng dần lên. "Điều này cho thấy với thói quen của người dân là tích trữ dần, lượng vàng nằm trong dân mỗi ngày mỗi tăng. Vì thế khi giá vàng thế giới giảm sâu thì trong nước chỉ giảm cầm chừng để chờ cơ hội bật lên", nhóm phân tích của DOJI đánh giá.
Trong phiên giao dịch ngày hôm qua, một số nhà đầu tư và khách hàng nhỏ lẻ tranh thủ mua vào khiến cho thị trường vàng miếng có một phiên giao dịch khả dĩ hơn mấy ngày trước. Tính đến cuối ngày lượng khách mua vàng chiếm 65% trên tổng lượng giao dịch của DOJI. Còn tại PNJ, lượng giao dịch không nhiều biến động, lượng mua vào cũng chiếm khoảng 60% giao dịch.
Trên thị trường ngoại tệ, giá đôla vẫn ổn định so với hôm qua. Tại Vietcombank, mỗi đôla được mua bán ở 22.280 - 22.360 đồng. Giá mua bán tại một số ngân hàng khác rẻ hơn Vietcombank khoảng 10 đồng.
Thanh
Cưỡng chế nếu chủ đầu tư không bàn giao về phí bảo trì
Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở, với các nội dung liên quan đến sở hữu, giao dịch, quản lý sử dụng nhà...
Trong trường hợp được Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu bàn giao phí bảo trì cho Ban quản trị nhưng chủ đầu tư không thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế thu hồi trong vòng 30 ngày, theo Nghị định vừa được Chính phủ ban hành.
Văn bản có những quy định rất cụ thể thủ tục cưỡng chế bàn giao kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư. Cụ thể, trường hợp chủ đầu tư không bàn giao kinh phí bảo trì hoặc bàn giao không đầy đủ, không đúng hạn theo quy định thì Ban quản trị có văn bản đề nghị Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh yêu cầu chủ đầu tư thực hiện.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được văn bản của Ban quản trị, UBND cấp tỉnh phải xem xét, kiểm tra. Nếu cư dân và chủ đầu tư đã quyết toán số liệu thì yêu cầu chủ đầu tư thực hiện việc bàn giao đó. Và trong vòng 7 ngày, kể từ khi nhận được văn bản của UBND, chủ đầu tư phải bàn giao khoản kinh phí bảo trì này.
Trường hợp các bên vẫn chưa quyết toán số liệu kinh phí bảo trì thì phải thực hiện công tác đó và bàn giao trong thời hạn 10 ngày.
Quá thời hạn trên,chủ đầu tư vẫn chưa bàn giao thì UBND cấp tỉnh phải có trách nhiệm ra quyết định cưỡng chế thu hồi kinh phí bảo trì, giao cho Ban quản trị. Trong quyết định, UBND cấp tỉnh phải ghi rõ số kinh phí chủ đầu tư phải bàn giao, thời hạn, biện pháp cưỡng chế. Kinh phí phải bàn giao là toàn bộ số tiền bảo trì (cả gốc và lãi) theo số liệu mà các bên đã quyết toán. Nếu các bên không thống nhất quyết toán số liệu thì bàn giao theo số liệu ghi trong quyết định cưỡng chế của UBND cấp tỉnh.
Trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được quyết định cưỡng chế của UBND cấp tỉnh, tổ chức tín dụng đang quản lý tài khoản của chủ đầu tư phải chuyển số tiền đó sang tài khoản do Ban quản trị lập.
Hiện nay, phí bảo trì chung cư là 2% giá trị hợp đồng và người mua nhà thường phải nộp khoản này trước khi nhận bàn giao căn hộ. Về nguyên tắc, sau khi các tòa nhà bầu được Ban quản trị, chủ đầu tư sẽ phải bàn giao lại khoản này để cư dân tự quản lý. Tuy nhiên, vừa qua tại nhiều chung cư, thường xảy ra tình trạng tranh chấp kéo dài vì chủ đầu tư không chịu bàn giao phí bảo trì. Mặc dù sau đó có sự can thiệp của UBND các địa phương nhưng vẫn không giải quyết được vì thực tế chưa có quy định, chế tài cụ thể. Các chuyên gia kỳ vọng Nghị định vừa ban hành sẽ giải quyết được những tranh chấp kéo dài tại nhiều khu chung cư hiện nay.
Nhà đầu tư Qatar xin rút ra khỏi dự án lọc dầu 4 tỷ USD
Lọc hóa dầu Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu) là dự án liên doanh của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), Tập đoàn SCG của Thái Lan và Tập đoàn dầu khí quốc gia Qatar (QP).
Trong báo cáo gửi lên Chính Phủ, Ban Quản lý các dự án trọng điểm cho biết nhà đầu tư Qatar đã chính thức xin rút khỏi dự án Lọc hoá dầu Long Sơn.
Liên doanh này đã được Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh cấp Giấy chứng nhận ngày 11/7/2008 với tổng mức đầu tư 3,77 tỷ USD.
Tuy nhiên, theo báo cáo của cơ quan quản lý, ngày 10/9, trong cuộc họp cấp cao giữa các bên, nhà đầu tư Qatar đã chính thức thông báo sẽ rút khỏi dự án do tái cơ cấu và thay đổi chiến lược phát triển của mình. Cũng vì lý do này, QP đã không phê duyệt các công việc của dự án, khiến tiến độ thực hiện đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nhằm gỡ vướng mắc này, Bộ Công Thương đã yêu cầu SCG phối hợp với PetroVietnam đàm phán với QP về việc chuyển nhượng vốn và duy trì hợp đồng nguyên liệu cho dự án, vốn dự kiến do đối tác Qatar cung cấp. Đồng thời, các bên cần tiếp tục tìm kiếm đối tác và hợp đồng nguyên liệu khác trong trường hợp đàm phán với QP không thành công.
Hiện Bộ Công thương và PVN đang đàm phán với Bộ Năng lượng và Công nghiệp Qatar nhằm thảo luận các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho dự án lọc dầu Long Sơn.
Dự án tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn có công suất thiết kế 2,7 triệu tấn, được xây dựng trên diện dích hơn 460 hecta, dự kiến 2019 sẽ đi vào hoạt động. Hiện PVN đang nắm 29% vốn, Tập đoàn QP chiếm 25% và Tập đoàn SCG đầu tư 46%.
Bà Phạm Chi Lan nói: 'Đừng quá ảo tưởng về TPP'
Ngày 29/10, bà Phạm Chi Lan có cuộc trao đổi với báo chí tại TP HCM xung quanh vấn đề TPP (Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) để làm rõ hơn những cơ hội, thách thức và mong muốn Việt Nam cần có những hướng đi cụ thể để tận dụng tối đa cơ hội từ hiệp định này, chứ không nên hô hào suông và tự ảo tưởng.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng cần có cách nhìn cân bằng giữa cơ hội và thách thức của Hiệp định TPP vừa đạt được, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam không nên quá ảo tưởng.
- Trước hết, bà nhìn nhận thế nào về việc Việt Nam vừa đàm phán thành công tham gia Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương?
- Khi tham gia vào bất cứ hiệp định thương mại nào thì Việt Nam cũng sẽ có những cơ hội và thách thức nhất định. Và trong Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương - TPP cũng vậy, chúng ta không nên quá tô hồng mà quên đi những thách thức cần phải giải quyết.
Mặt khác, tôi cho rằng, nếu cứ ngồi đó hô hào là sau 10 năm nữa sẽ có 35 tỷ USD khi gia nhập TPP thì càng ảo tưởng hơn. Bởi TPP là bài toán phức tạp chứ không hề đơn giản. Muốn có được kết quả đó thì phải bắt tay vào triển khai, thực hiện quyết liệt mới mong tận dụng được cơ hội, còn không thì 50 năm cũng chẳng có gì.
Bởi TPP không phải là hiệp ước thương mại tự do duy nhất của Việt Nam. Trong mấy năm gần đây, Việt Nam đã ký rất nhiều FTA với ASEAN, ASEAN +, Hàn Quốc, Chile, Liên minh Nga-Kazakistan-Belarus, EU…, nhưng kết quả của các FTA này đến nay vẫn chưa có nhiều, vì ngoài những doanh nghiệp FDI, công ty nội địa Việt chưa đủ sản phẩm và dịch vụ chất lượng, giá trị cao để xâm nhập những thị trường này.
- Khi tham gia TPP, nhiều người đánh giá Việt Nam sẽ được lợi nhiều nhất vì là nước mà kinh tế phát triển ở mức thấp nhất trong số các nước TPP. Vậy ý kiến của bà thế nào?
- Trước hết, về vấn đề lợi ích khi tham gia TPP, tôi cho rằng, khi người ta nói Việt Nam là nước được hưởng lợi nhiều nhất là do họ dựa trên một vài nghiên cứu được công bố của các chuyên gia, chủ yếu là ở Mỹ, nói rằng tham gia TPP thì các nước thành viên đều có thể có sự tăng trưởng về xuất khẩu, về GDP…Và so sánh với mức độ hiện nay, Việt Nam có thể có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất.
Tuy nhiên, tôi cho rằng nếu chỉ nhìn tỷ lệ tăng trưởng cao mà đánh giá Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất thì không đúng, không xác đáng.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từng là Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trước khi tham gia công tác tư vấn, phản biện chính sách đối với doanh nghiệp.
|
Tôi lấy ví dụ, một nước thành viên đang có GDP 10.000 USD, khi vào TPP thì tăng được thêm 1.000 USD, tức là chỉ tăng được 10%. Còn Việt Nam đang có GDP 100 USD, vào TPP tăng thêm 100 USD, tức tăng 100%. Từ con số này, nếu nói Việt Nam hưởng lợi nhất là không đúng, mà chính xác là các thành viên khác đã tăng gấp Việt Nam 10 lần, chứ không phải chúng ta tăng gấp 10 lần họ (tức 1.000 USD so với 100 USD).
Như vậy, Việt Nam đạt tỷ lệ cao chủ yếu là do có điểm xuất phát thấp. GDP của Việt Nam hiện nay là quy mô nhỏ nhất, tính theo bình quân đầu người, trong 12 nước thành viên TPP. Cho nên, Việt Nam có thể có tốc độ tăng cao so với chính mình (chẳng hạn tăng 100%, còn các nước lớn chỉ tăng 10%), nhưng ngay cả có tăng với tốc độ cao thì khoảng cách giữa Việt Nam và các nước thành viên khác của TPP vẫn còn rất lớn. Mỗi 1% tăng trưởng của Việt Nam là rất nhỏ so với các nước thành viên TPP khác.
- Bên cạnh việc ký kết các FTA khác, giờ Việt Nam lại tham gia vào TPP nên ngành xuất khẩu được kỳ vọng sẽ có cơ hội tăng mạnh. Ý kiến của bà về vấn đề này?
Tôi dẫn lời của Giáo sư Trần Văn Thọ từng nói, với những nước đang phát triển mà tham gia quá nhiều thương mại tự do thì sẽ không đủ lực để phát triển. Do đó, câu hỏi đặt ra lúc này là việc Việt Nam tham gia nhiều vào các hiệp định, nhất là TPP thì xuất khẩu có thật sự sẽ tăng mạnh hay không?
Theo tôi, điều này là khó. Vì thực tế nước ta đã bán hầu hết những tài nguyên thô rồi thì lấy đâu ra tiềm lực để thúc đẩy xuất khẩu, trừ khi có những đột phá về kinh tế. "Thật sự mà nói thì Việt Nam đang rơi vào tình trạng chưa thành công nghiệp hoá nhưng đã 'lão hoá' rồi".
- Vậy theo bà, việc Việt Nam tham gia TPP thì đối tượng nào sẽ được hưởng lợi nhất?
- Việc xem xét những lợi ích từ TPP mang lại có vào được túi các doanh nghiệp Việt, người dân hay không cũng là vấn đề cần phải bàn.
Bởi hiện nay, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI đang chiếm ưu thế (chiếm 72% xuất khẩu). Chúng ta vẫn hay nói hằng năm ngành dệt may tăng trưởng lớn, trị giá xuất khẩu vài chục tỷ USD, nhưng phải xem rõ đó là do khu vực nào xuất khẩu, phải chăng vẫn là doanh nghiệp nước ngoài, còn doanh nghiệp Việt là rất hiếm hoi.
Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là gia công, thay vì nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc, thì hiện các doanh nghiệp Trung Quốc thi nhau chuyển công nghệ, lao động sang Việt Nam để làm. Như vậy, cuối cùng thì họ vẫn là người bán sợi cho các công ty may Việt Nam và hưởng lợi. Còn ta chỉ là hưởng được một phần lợi ích rất nhỏ.
Đó là chưa kể hiện nay doanh nghiệp trong nước đang gặp phải rất nhiều rào cản như thuế phí, các khoản lót tay.., thì còn đâu lợi nhuận đầu tư cho cải tiến công nghệ kỹ thuật, chiến lược để cạnh tranh, phát triển và thâm nhập vào thị trường khác. Mặt khác, trong bối cảnh lạm phát rất thấp nhưng lãi suất cho vay vẫn cao, rất khó hỗ trợ cho doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất.
Còn với nông dân, chúng ta luôn nói nhiều đến chuỗi cung ứng, chuỗi liên kết..., nhưng nếu không có bàn tay của Nhà nước thì người dân và doanh nghiệp khó có thể làm được gì. Nó phụ thuộc vào nỗ lực của Việt Nam trong cải cách thể chế, tạo môi trường kinh doanh tốt, thuận lợi và công bằng với các doanh nghiệp.
Do đó, tôi lo lắng các hiệp định TPP, FTA nếu không có những sách lược tốt thì cái lợi chủ yếu rơi vào tay nhà đầu tư nước ngoài và một nhóm rất nhỏ người Việt Nam chứ không phải là đa số dân Việt.
- Vậy theo bà, Việt nam cần phải làm gì để có thể tận dụng được tốt hơn những cơ hội từ TPP?
- Trước hết là bài toán cải tiến công nghệ. Trong các nước tham gia TPP thì Việt Nam xếp ở hàng thấp nhất về trình độ công nghệ dù đây là yếu tố mà ai cũng biết là vô cùng quan trọng đối với năng lực cạnh tranh. Đây là vấn đề thuộc về tầm quốc gia và phải được Nhà nước ưu tiên quan tâm chứ không hoàn toàn thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp.
Vấn đề cấp thiết thứ hai là Việt Nam phải cải cách thể chế thật quyết liệt vì đây đang là lực cản với sự phát triển của doanh nghiệp. Việc cải cách thể chế này phải được triển khai ở từng vị trí trong bộ máy Nhà nước và cần phải đặt ra yêu cầu huấn luyện lại cán bộ. Nếu không sẽ không có thay đổi gì vì người này chờ người kia, và không ai chịu trách nhiệm, mọi thứ sẽ giẫm chân tại chỗ.
Doanh nghiệp khổ bởi vì thủ tục kiểm tra của hải quan
Trong một vài năm trở lại đây, ngành hải quan được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đột phá và đổi mới nhất, nếu so với các dịch vụ công khác như thuế và bảo hiểm xã hội.
Quy định kiểm tra chuyên ngành cứng nhắc với một số hàng hóa trước khi thông quan đã làm mất thời gian, tốn chi phí và gây bức xúc cho nhiều doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tại buổi đối thoại với lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan diễn ra ngày 29/10, nhiều doanh nghiệp cho biết họ cảm thấy "mệt mỏi" và "vất vả" với những thủ tục rườm rà của quy định kiểm tra chuyên ngành trước khi thông quan.
Đại diện Công ty Nam Đô phản ánh những rườm rà của thủ tục kiểm tra chuyên ngành khi thông quan. Ảnh: T.L.
|
Theo quy định, một số mặt hàng buộc phải được kiểm tra về tiêu chuẩn chất lượng trước khi thông quan, trong số đó có mặt hàng dệt may và thuốc bảo vệ thực vật. Là đơn vị nhập khẩu cả hai mặt hàng này, bà Trịnh Tú Anh - Giám đốc Công ty TNHH thương mại và Xây dựng An Đô - cho biết thời gian và chi phí phát sinh cho việc kiểm tra chuyên ngành này rất lớn.
Với mặt hàng dệt may, bà Tú Anh cho biết trong 9 tháng qua phải nộp tổng cộng 620 triệu đồng để kiểm định tại Viện Dệt may. "Chúng tôi thường xuyên phải đăng ký lấy mẫu nhanh nên chi phí lại càng thêm tốn kém. Chưa kể tôi phải mất một nhân viên chỉ chuyên đi phục vụ hoạt động kiểm tra chuyên ngành cứ lặp đi lặp lại này. Một ngày 10 xe nằm ở cửa khẩu, chi phí bến bãi cũng đã 5 triệu một ngày, rồi tiền trả cho lái xe... Trong khi đó, theo thống kê của ngành mình, chưa đến 1% lô hàng có vấn đề. Vậy tại sao cứ áp dụng quy định này gây tốn kém cho doanh nghiệp", vị nữ doanh nhân này cho biết.
Với mặt hàng thuốc bảo vệ thực vật, theo đại diện công ty này, việc kiểm dịch với các quy định hiện này là hoàn toàn vô nghĩa và mang tính hình thức. "Xe khi vào bãi, chỉ đăng ký kiểm dịch và nộp lệ phí là xong chứ không có xử lý kiểm dịch gì cả. Theo tôi việc này chỉ có ý nghĩa khi xác định đang có dịch bệnh mà thôi", bà Tú Anh cho biết.
Lãnh đạo Bộ Tài chính lắng nghe bức xúc của từng doanh nghiệp. Ảnh: T.L.
|
Tại buổi đối thoại, bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam cũng cho biết đây là khó khăn của nhiều doanh nghiệp. Bà kể, có công ty hàng chục năm nay chỉ nhập khẩu duy nhất một sản phẩm làm gia công nhưng lúc nào cũng phải làm thủ tục kiểm định gây tốn kém thời gian cho doanh nghiệp.
Dự buổi đối thoại với doanh nghiệp có đại diện Tổng cục Hải quan, Thuế nhưng Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn vẫn xung phong trả lời trực tiếp tất cả các chia sẻ, kiến nghị của từng doanh nghiệp. Vị lãnh đạo này thừa nhận đây không phải là bức xúc của riêng một vài doanh nghiệp và những rườm rà trong thủ tục kiểm tra chuyên ngành là vấn đề trọng tâm mà ngành tài chính sẽ tìm phương án cải thiện. Ông cho biết trong số 7 triệu tờ khai hiện nay, chỉ khoảng 38% tờ khai phải thực hiện khâu kiểm tra này do quy định. "Mặc dù vậy so với các nước trong khu vực, tỷ lệ này vẫn còn cao. Tuy nhiên, với một số mặt hàng, quy định này vẫn là cần thiết", ông nói.
Ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết giữa tháng 9, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ Đề án nâng cao hiệu lực, giảm thời gian chi phí thông quan cho doanh nghiệp và văn bản này đang được lấy ý kiến trước khi ban hành. "Chúng tôi sẽ đầu tư phương tiện con người với cơ chế sửa đổi để làm sao khâu kiểm tra tại cửa khẩu nhanh nhất có thể", ông nói.
Đại diện Bộ Tài chính cho biết có thể sẽ giảm tần suất và yêu cầu kiểm tra chuyên ngành khi thông qua với những hàng hóa nhập khẩu trực tiếp nhưng với một số cần kiểm soát đặc biệt thì vẫn phải giữ nguyên để đảm bảo an toàn.
Hội nghị đối thoại doanh nghiệp được tổ chức thường niên bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI và Bộ Tài chính. Chủ tịch VCCI ông Vũ Tiến Lộc đánh giá cao việc lãnh đạo ngành tài chính ngồi rà soát từng thông tư, nghị định... để cắt giảm thủ tục hải quan, thuế cho doanh nghiệp vừa qua.
Tuy nhiên, ông Lộc vẫn đề nghị Bộ Tài chính nên tìm cách khuyến khích các hộ kinh doanh đăng ký thành doanh nghiệp chính thức để phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. "Nhiều hộ kinh doanh tôi biết quy mô còn lớn hơn cả doanh nghiệp mà họ vẫn không chịu đăng ký kinh doanh. Cần khuyến khích họ chuyển thành doanh nghiệp, để minh bạch hơn. Nếu li ti mãi, không chính thức mãi sẽ không bao giờ lớn lên được để chơi với thế giới trong chuỗi giá trị này", ông Lộc nói.
|
Ông Trương Văn Phước nói: 'Đừng để sếp ngân hàng 0 đồng vừa làm vừa run'
Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia - Trương Văn Phước vừa có cuộc trao đổi với VnExpress xung quanh câu chuyện tái cơ cấu các nhà băng được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng.
Một không gian rủi ro nhất định để người điều hành tự tin quyết định cho vay thay vì phải nơm nớp lo sợ sẽ là cơ hội để các ngân hàng 0 đồng sớm gượng dậy.
- Từng đi "biệt phái" tại Eximbank khi ngân hàng này bên bờ vực phá sản, nợ xấu có lúc lên tới 75%..., giờ ông đánh giá gì về tình hình tổn thất và khả năng vực dậy của 3 "nhà băng 0 đồng" là Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Đại Dương và Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu?
- Theo tôi biết, các khoản cho vay của 3 ngân hàng này đều có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, vấn đề lớn là chúng có tình trạng pháp lý chưa đầy đủ, dẫn đến việc họ phải trích lập dự phòng nhiều, làm cân đối thu chi trở nên khó khăn. Cũng vì lẽ đó mà hiện xuất hiện các quan điểm khác nhau về tổn thất.
Với kinh nghiệm xử lý Eximbank trước đây, ông Trương Văn Phước tin rằng 3 ngân hàng 0 đồng có thể cần 3-5 năm để có lãi. Ảnh: Quý Đoàn
|
Khi đánh giá giá trị tài sản, cổ phần của các ngân hàng 0 đồng, các bên kiểm toán độc lập và phần lớn mọi người đều nhìn nhận, cứ tài sản không có giấy tờ sở hữu hợp pháp là loại ra và coi như trị giá bằng 0. Theo tôi đây là một quan điểm không phù hợp. Tuy về mặt pháp lý nó chưa hoàn thành nhưng giá trị vật chất, giá trị tiền tệ kết tinh thì vẫn phải thừa nhận.
Năm 2000, khi chấn chỉnh Eximbank tôi cũng phải xử lý rất nhiều nợ xấu, trong đó có những tài sản của Công ty Minh Phụng không có giấy tờ hợp pháp và giá trị của nó cũng bị tính bằng 0. Tôi nghĩ nếu có sự hợp tác của các Bộ ngành trong việc xác lập lại giá trị pháp lý cho chúng thì giá trị tài sản sẽ phản ánh đúng bản chất. Vì thế tôi tin việc mất vốn và tổn thất của các ngân hàng 0 đồng không lớn như con số hiện nay ta đánh giá.
- Theo ông, đâu là khó khăn lớn nhất của các ngân hàng 0 đồng hiện nay?
- Việc đầu tiên và khẩn cấp là Ngân hàng Nhà nước và các cán bộ của những ngân hàng thương mại Nhà nước được chỉ định phải bằng mọi cách "cầm máu", ngưng lỗ để cân bằng thu chi. Sau đó đến bước xử lý nhanh nợ xấu. Dù làm những bước nào thì các ngân hàng này vẫn cần những người điều hành có tay nghề giỏi. Con người là yếu tố quyết định việc cứu các nhà băng này có thành công hay không.
Tuy nhiên, cần có một cơ chế đặc thù cho những người này để họ tự tin đưa ra quyết định tín dụng mới mà không phải nơm nớp lo sợ. Khi cho vay, không có ngân hàng nào tự tin rằng sẽ không xảy ra rủi ro và không có nợ xấu cả. Nhưng thử tưởng tượng đội bóng đang thua 3-0 ở phút thứ 70 mà các cầu thủ không dám xông lên tấn công bởi sợ thủng lưới thêm bàn nữa sẽ bị quy trách nhiệm nặng nề thì không thể nào gỡ các bàn thua.
Đó chính là vấn đề mà 15 năm trước tôi đối mặt khi chấn chỉnh Eximbank. Nếu vì an toàn cá nhân, tôi sẽ chỉ cho vay dựa trên khoản có tài sản thế chấp. Nhưng an toàn cho tôi thì làm sao ngân hàng có thể cạnh tranh để mở rộng tín dụng, bù đắp thua lỗ và gỡ các bàn thắng được? Vì vậy cần cởi bỏ tâm lý cho các cán bộ điều hành ngân hàng 0 đồng, cho họ một không gian rủi ro nhất định để họ hoạt động.
- Vậy theo ông nên cởi trói tâm lý cho các cán bộ điều hành ngân hàng 0 đồng như thế nào mà vẫn hạn chế được những rủi ro?
- Hồi đó, những người tham gia chấn chỉnh củng cố Eximbank, đặc biệt là tôi - tổng giám đốc - có một cơ chế theo dõi giám sát riêng của Ngân hàng Nhà nước. Miễn chứng minh được quyết định cấp tín dụng có cơ sở về mặt kinh tế, động cơ cho vay trong sáng là vị tổng giám đốc được cho vay mà không phải nơm nớp lo sợ. Ngày đó, tổ giám sát đặc biệt mà Ngân hàng Nhà nước cử vào theo dõi giám sát từng ngày từng giờ, họ xem từng hoạt động và từng hợp đồng tín dụng mới phát sinh của Eximbank.
- Theo ông mất bao lâu để các ngân hàng 0 đồng "vươn lên mặt đất" và có lãi?
- Thời gian cần để phục hồi lại 3 ngân hàng này theo tôi từ 3-5 năm. Tuy nhiên, đó là với điều kiện có hai nhân tố quan trọng: con người và cơ chế. Đội ngũ quản trị mới không chỉ có tay nghề mà cần còn có đạo đức và họ phải được trao một không gian rủi ro nhất định để "tấn công" gỡ bàn thua cho ngân hàng như tôi vừa nói.
Ngoài ra, về mặt cơ chế, Ngân hàng Nhà nước có thể cho họ một lãi suất tái cấp vốn thấp để họ có nguồn vốn, hỗ trợ họ quá trình hoàn thiện thủ tục hồ sơ, giấy tờ cho tài sản đảm bảo hay miễn giảm tiền thuế nhà cửa đất đai..., kể cả có thể thanh toán ngay các khoản nợ mà VAMC mua của họ.
Tại sao lại được ưu tiên như vậy? Bởi vì tôi đang chữa căn bệnh mà các tế bào trên cơ thể này chính là người dân gửi tiền. Nếu cứu được cơ thể ấy bằng các liều thuốc dù là miễn phí đi chăng nữa thì mục tiêu cuối cùng vẫn là tôi đã cứu bao nhiêu lợi ích của người gửi tiền.
- Việc Ngân hàng Nhà nước xử lý 3 tổ chức trên bằng cách mua lại cổ phần với giá 0 đồng, vẫn tạo ra những ảnh hưởng về mặt tâm lý với cổ đông của các ngân hàng khác đang hoạt động bình thường. Họ luôn lo lắng và chất vấn lãnh đạo các ngân hàng mình đầu tư về khả năng bị mua lại tương tự như VNCB, OceanBank hay GPBank. Theo ông, làm sao để giải tỏa tâm lý này?
- Đương nhiên, cách làm này không nên lạm dụng bởi không chỉ ở Việt Nam, nước ngoài họ cũng lựa chọn việc mua lại một nhà băng rất dè dặt. Nhưng nếu Ngân hàng Nhà nước không mua lại cổ phần của các nhà băng này thì điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn chỉ còn lại việc cho ngân hàng phá sản. Đó lại là giải pháp không khả thi cả về mặt pháp luật lẫn đạo lý trong giai đoạn này.
Việc các cổ đông băn khoăn lo nghĩ cũng là dễ hiểu bởi đó là tiền bạc, tài sản của họ. Nhưng tôi nghĩ với những kinh nghiệm đã có được, với quá trình tái cơ cấu hệ thống đang diễn ra như hiện nay, khả năng để xảy ra những sự cố như vậy vô cùng khó.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)