Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016

Người Myanmar chở hàng bao tiền ở trên xe tải

Chỉ còn một tuần nữa, Myanmar - một trong những quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á - sẽ tổ chức kỳ bầu cử lịch sử. Nền kinh tế này mới mở cửa vài năm gần đây, sau 50 năm dưới chế độ quân sự.

Tiền mặt được chuộng đến nỗi người dân ở đây dùng chúng kể cả trong các giao dịch giá trị lớn như mua nhà hay ôtô.

Việc này đã mở ra nhiều cơ hội cho các dịch vụ tài chính hiện đại. Tuy nhiên, với phần lớn người dân Myanmar, tiền mặt vẫn đang là vua.

Nhưng ngay cả ở ngân hàng, tiền cũng được bó gọn, xếp thành từng chồng trên sàn nhà. Thẻ ATM và thẻ tín dụng tại đây vẫn còn rất hiếm. Vì vậy, phần lớn người dân sử dụng tiền mặt, kể cả trong các giao dịch giá trị lớn như mua nhà hay ôtô.
nguoi-myanmar-cho-hang-bao-tien-tren-xe-tai
Tiền mặt được đặc biệt ưa chuộng và giao dịch với số lượng lớn ở Myanmar. Ảnh:Reuters
Các ngân hàng Myanmar vẫn đang nỗ lực quảng bá nhiều dịch vụ hiện đại, vốn đã trở nên quen thuộc với cả thế giới, như ATM. Nhưng việc này vẫn rất khó khăn tại quốc gia Đông Nam Á này. Phần lớn người dân ở đây vẫn không tin tưởng vào các loại hình dịch vụ đó. Vì thế, mỗi lần cần gửi tiền, họ lại mang cả bao tải đến nhà băng.
Một người Myanmar làm nghề bán hàng thủ công đã mang đến ngân hàng nhiều bao tải với số tiền tương đương 160.000 USD. Bà cho biết trên BBC: "Chúng tôi không dùng ATM hay thẻ tín dụng. Tôi thường mang tiền mặt đến ngân hàng để gửi. Phần lớn mọi người thích giao dịch bằng tiền mặt hơn và không quen với ATM hay chuyển tiền điện tử. Họ cũng chẳng biết cách dùng ATM nữa".
Và khi có việc cần dùng tới số tiền hàng triệu, người Myanmar lại sử dụng xe bán tải hoặc xe tải để vận chuyển. Tiền được đóng vào các bao tải, không có người bảo vệ nhưng việc chuyển đi luôn rất suôn sẻ.
 

Giá vàng ở trong nước rớt mạnh theo thế giới

Mở cửa lúc 8h15, giá vàng miếng SJC được Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI giao dịch ở ngưỡng 33,67 – 33,73 triệu đồng một lượng.

Mỗi lượng vàng miếng SJC mất cả trăm nghìn đồng sau khi giá thế giới giảm mạnh vì thông tin FED có thể hạ lãi suất

So với đóng cửa chiều qua, mỗi lượng vàng mất 100.000 đồng ở cả hai chiều mua bán. Trong khi đó, tại Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), giá mua vào được doanh nghiệp này niêm yết ở 33,57 triệu nhưng bán ra ở 33,8 triệu đồng mỗi lượng.

gia-vang-trong-nuoc-rot-manh-theo-the-gioi
Mỗi lượng vàng miếng SJC giảm còn 33,73 triệu đồng. Ảnh: Lệ Chi.
Đà giảm của giá vàng trong nước mạnh hơn nhiều so với hôm qua, chủ yếu do giá thế giới mất hơn 10 USD trước thông tin Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có thể lại nâng lãi suất vào cuối năm. Đến 9h, tại phiên châu Á, mỗi ounce vàng giao dịch ở 1.146,4 USD. Như vậy, quy đổi tiền Việt, mỗi lượng vàng có giá khoảng 30,9 triệu đồng (nếu chưa kể thuế, phí gia công).
Trước đó hôm qua 29/10, thị trường điều chỉnh khá cầm chừng. Theo DOJI, mỗi khi mức giá mới được lập hôm qua, nhu cầu bán ra bị hạn chế lại do lượng vàng trong lưu thông không dồi dào. Thay vào đó, lượng khách mua vào tăng dần lên. "Điều này cho thấy với thói quen của người dân là tích trữ dần, lượng vàng nằm trong dân mỗi ngày mỗi tăng. Vì thế khi giá vàng thế giới giảm sâu thì trong nước chỉ giảm cầm chừng để chờ cơ hội bật lên", nhóm phân tích của DOJI đánh giá.
Trong phiên giao dịch ngày hôm qua, một số nhà đầu tư và khách hàng nhỏ lẻ tranh thủ mua vào khiến cho thị trường vàng miếng có một phiên giao dịch khả dĩ hơn mấy ngày trước. Tính đến cuối ngày lượng khách mua vàng chiếm 65% trên tổng lượng giao dịch của DOJI. Còn tại PNJ, lượng giao dịch không nhiều biến động, lượng mua vào cũng chiếm khoảng 60% giao dịch.
Trên thị trường ngoại tệ, giá đôla vẫn ổn định so với hôm qua. Tại Vietcombank, mỗi đôla được mua bán ở 22.280 - 22.360 đồng. Giá mua bán tại một số ngân hàng khác rẻ hơn Vietcombank khoảng 10 đồng.
Thanh

Cưỡng chế nếu chủ đầu tư không bàn giao về phí bảo trì

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở, với các nội dung liên quan đến sở hữu, giao dịch, quản lý sử dụng nhà...

Trong trường hợp được Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu bàn giao phí bảo trì cho Ban quản trị nhưng chủ đầu tư không thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế thu hồi trong vòng 30 ngày, theo Nghị định vừa được Chính phủ ban hành. 

Văn bản có những quy định rất cụ thể thủ tục cưỡng chế bàn giao kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư. Cụ thể, trường hợp chủ đầu tư không bàn giao kinh phí bảo trì hoặc bàn giao không đầy đủ, không đúng hạn theo quy định thì Ban quản trị có văn bản đề nghị Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh yêu cầu chủ đầu tư thực hiện. 
Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được văn bản của Ban quản trị, UBND cấp tỉnh phải xem xét, kiểm tra. Nếu cư dân và chủ đầu tư đã quyết toán số liệu thì yêu cầu chủ đầu tư thực hiện việc bàn giao đó. Và trong vòng 7 ngày, kể từ khi nhận được văn bản của UBND, chủ đầu tư phải bàn giao khoản kinh phí bảo trì này.
Trường hợp các bên vẫn chưa quyết toán số liệu kinh phí bảo trì thì phải thực hiện công tác đó và bàn giao trong thời hạn 10 ngày. 
Quá thời hạn trên,chủ đầu tư vẫn chưa bàn giao thì UBND cấp tỉnh phải có trách nhiệm ra quyết định cưỡng chế thu hồi kinh phí bảo trì, giao cho Ban quản trị. Trong quyết định, UBND cấp tỉnh phải ghi rõ số kinh phí chủ đầu tư phải bàn giao, thời hạn, biện pháp cưỡng chế. Kinh phí phải bàn giao là toàn bộ số tiền bảo trì (cả gốc và lãi) theo số liệu mà các bên đã quyết toán. Nếu các bên không thống nhất quyết toán số liệu thì bàn giao theo số liệu ghi trong quyết định cưỡng chế của UBND cấp tỉnh. 
Trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được quyết định cưỡng chế của UBND cấp tỉnh, tổ chức tín dụng đang quản lý tài khoản của chủ đầu tư phải chuyển số tiền đó sang tài khoản do Ban quản trị lập. 
Hiện nay, phí bảo trì chung cư là 2% giá trị hợp đồng và người mua nhà thường phải nộp khoản này trước khi nhận bàn giao căn hộ. Về nguyên tắc, sau khi các tòa nhà bầu được Ban quản trị, chủ đầu tư sẽ phải bàn giao lại khoản này để cư dân tự quản lý. Tuy nhiên, vừa qua tại nhiều chung cư, thường xảy ra tình trạng tranh chấp kéo dài vì chủ đầu tư không chịu bàn giao phí bảo trì. Mặc dù sau đó có sự can thiệp của UBND các địa phương nhưng vẫn không giải quyết được vì thực tế chưa có quy định, chế tài cụ thể. Các chuyên gia kỳ vọng Nghị định vừa ban hành sẽ giải quyết được những tranh chấp kéo dài tại nhiều khu chung cư hiện nay. 

Nhà đầu tư Qatar xin rút ra khỏi dự án lọc dầu 4 tỷ USD

Lọc hóa dầu Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu) là dự án liên doanh của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), Tập đoàn SCG của Thái Lan và Tập đoàn dầu khí quốc gia Qatar (QP).

Trong báo cáo gửi lên Chính Phủ, Ban Quản lý các dự án trọng điểm cho biết nhà đầu tư Qatar đã chính thức xin rút khỏi dự án Lọc hoá dầu Long Sơn.

Liên doanh này đã được Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh cấp Giấy chứng nhận ngày 11/7/2008 với tổng mức đầu tư 3,77 tỷ USD.

Tuy nhiên, theo báo cáo của cơ quan quản lý, ngày 10/9, trong cuộc họp cấp cao giữa các bên, nhà đầu tư Qatar đã chính thức thông báo sẽ rút khỏi dự án do tái cơ cấu và thay đổi chiến lược phát triển của mình. Cũng vì lý do này, QP đã không phê duyệt các công việc của dự án, khiến tiến độ thực hiện đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nhằm gỡ vướng mắc này, Bộ Công Thương đã yêu cầu SCG phối hợp với PetroVietnam đàm phán với QP về việc chuyển nhượng vốn và duy trì hợp đồng nguyên liệu cho dự án, vốn dự kiến do đối tác Qatar cung cấp. Đồng thời, các bên cần tiếp tục tìm kiếm đối tác và hợp đồng nguyên liệu khác trong trường hợp đàm phán với QP không thành công.
Hiện Bộ Công thương và PVN đang đàm phán với Bộ Năng lượng và Công nghiệp Qatar nhằm thảo luận các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho dự án lọc dầu Long Sơn.
Dự án tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn có công suất thiết kế 2,7 triệu tấn, được xây dựng trên diện dích hơn 460 hecta, dự kiến 2019 sẽ đi vào hoạt động. Hiện PVN đang nắm 29% vốn, Tập đoàn QP chiếm 25% và Tập đoàn SCG đầu tư 46%.

Bà Phạm Chi Lan nói: 'Đừng quá ảo tưởng về TPP'

Ngày 29/10, bà Phạm Chi Lan có cuộc trao đổi với báo chí tại TP HCM xung quanh vấn đề TPP (Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) để làm rõ hơn những cơ hội, thách thức và mong muốn Việt Nam cần có những hướng đi cụ thể để tận dụng tối đa cơ hội từ hiệp định này, chứ không nên hô hào suông và tự ảo tưởng.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng cần có cách nhìn cân bằng giữa cơ hội và thách thức của Hiệp định TPP vừa đạt được, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam không nên quá ảo tưởng.

- Trước hết, bà nhìn nhận thế nào về việc Việt Nam vừa đàm phán thành công tham gia Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương?
- Khi tham gia vào bất cứ hiệp định thương mại nào thì Việt Nam cũng sẽ có những cơ hội và thách thức nhất định. Và trong Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương - TPP cũng vậy, chúng ta không nên quá tô hồng mà quên đi những thách thức cần phải giải quyết.
Mặt khác, tôi cho rằng, nếu cứ ngồi đó hô hào là sau 10 năm nữa sẽ có 35 tỷ USD khi gia nhập TPP thì càng ảo tưởng hơn. Bởi TPP là bài toán phức tạp chứ không hề đơn giản. Muốn có được kết quả đó thì phải bắt tay vào triển khai, thực hiện quyết liệt mới mong tận dụng được cơ hội, còn không thì 50 năm cũng chẳng có gì.
Bởi TPP không phải là hiệp ước thương mại tự do duy nhất của Việt Nam. Trong mấy năm gần đây, Việt Nam đã ký rất nhiều FTA với ASEAN, ASEAN +, Hàn Quốc, Chile, Liên minh Nga-Kazakistan-Belarus, EU…, nhưng  kết quả của các FTA này đến nay vẫn chưa có nhiều, vì ngoài những doanh nghiệp FDI, công ty nội địa Việt chưa đủ sản phẩm và dịch vụ chất lượng, giá trị cao để xâm nhập những thị trường này.
- Khi tham gia TPP, nhiều người đánh giá Việt Nam sẽ được lợi nhiều nhất vì là nước mà kinh tế phát triển ở mức thấp nhất trong số các nước TPP. Vậy ý kiến của bà thế nào?
- Trước hết, về vấn đề lợi ích khi tham gia TPP, tôi cho rằng, khi người ta nói Việt Nam là nước được hưởng lợi nhiều nhất là do họ dựa trên một vài nghiên cứu được công bố của các chuyên gia, chủ yếu là ở Mỹ, nói rằng tham gia TPP thì các nước thành viên đều có thể có sự tăng trưởng về xuất khẩu, về GDP…Và so sánh với mức độ hiện nay, Việt Nam có thể có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất.
Tuy nhiên, tôi cho rằng nếu chỉ nhìn tỷ lệ tăng trưởng cao mà đánh giá Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất thì không đúng, không xác đáng.
ba-pham-chi-lan-dung-qua-ao-tuong-ve-tpp
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từng là Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trước khi tham gia công tác tư vấn, phản biện chính sách đối với doanh nghiệp.
Tôi lấy ví dụ, một nước thành viên đang có GDP 10.000 USD, khi vào TPP thì tăng được thêm 1.000 USD, tức là chỉ tăng được 10%. Còn Việt Nam đang có GDP 100 USD, vào TPP tăng thêm 100 USD, tức tăng 100%. Từ con số này, nếu nói Việt Nam hưởng lợi nhất là không đúng, mà chính xác là các thành viên khác đã tăng gấp Việt Nam 10 lần, chứ không phải chúng ta tăng gấp 10 lần họ (tức 1.000 USD so với 100 USD).
Như vậy, Việt Nam đạt tỷ lệ cao chủ yếu là do có điểm xuất phát thấp. GDP của Việt Nam hiện nay là quy mô nhỏ nhất, tính theo bình quân đầu người, trong 12 nước thành viên TPP. Cho nên, Việt Nam có thể có tốc độ tăng cao so với chính mình (chẳng hạn tăng 100%, còn các nước lớn chỉ tăng 10%), nhưng ngay cả có tăng với tốc độ cao thì khoảng cách giữa Việt Nam và các nước thành viên khác của TPP vẫn còn rất lớn. Mỗi 1% tăng trưởng của Việt Nam là rất nhỏ so với các nước thành viên TPP khác.
- Bên cạnh việc ký kết các FTA khác, giờ Việt Nam lại tham gia vào TPP nên ngành xuất khẩu được kỳ vọng sẽ có cơ hội tăng mạnh. Ý kiến của bà về vấn đề này?
Tôi dẫn lời của Giáo sư Trần Văn Thọ từng nói, với những nước đang phát triển mà tham gia quá nhiều thương mại tự do thì sẽ không đủ lực để phát triển. Do đó, câu hỏi đặt ra lúc này là việc Việt Nam tham gia nhiều vào các hiệp định, nhất là TPP thì xuất khẩu có thật sự sẽ tăng mạnh hay không?
Theo tôi, điều này là khó. Vì thực tế nước ta đã bán hầu hết những tài nguyên thô rồi thì lấy đâu ra tiềm lực để thúc đẩy xuất khẩu, trừ khi có những đột phá về kinh tế. "Thật sự mà nói thì Việt Nam đang rơi vào tình trạng chưa thành công nghiệp hoá nhưng đã 'lão hoá' rồi".
- Vậy theo bà, việc Việt Nam tham gia TPP thì đối tượng nào sẽ được hưởng lợi nhất?
- Việc xem xét những lợi ích từ TPP mang lại có vào được túi các doanh nghiệp Việt, người dân hay không cũng là vấn đề cần phải bàn. 
Bởi hiện nay, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI đang chiếm ưu thế (chiếm 72% xuất khẩu). Chúng ta vẫn hay nói hằng năm ngành dệt may tăng trưởng lớn, trị giá xuất khẩu vài chục tỷ USD, nhưng phải xem rõ đó là do khu vực nào xuất khẩu, phải chăng vẫn là doanh nghiệp nước ngoài, còn doanh nghiệp Việt là rất hiếm hoi. 
Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là gia công, thay vì nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc, thì hiện các doanh nghiệp Trung Quốc thi nhau chuyển công nghệ, lao động sang Việt Nam để làm. Như vậy, cuối cùng thì họ vẫn là người bán sợi cho các công ty may Việt Nam và hưởng lợi. Còn ta chỉ là hưởng được một phần lợi ích rất nhỏ.
Đó là chưa kể hiện nay doanh nghiệp trong nước đang gặp phải rất nhiều rào cản như thuế phí, các khoản lót tay.., thì còn đâu lợi nhuận đầu tư cho cải tiến công nghệ kỹ thuật, chiến lược để cạnh tranh, phát triển và thâm nhập vào thị trường khác. Mặt khác, trong bối cảnh lạm phát rất thấp nhưng lãi suất cho vay vẫn cao, rất khó hỗ trợ cho doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất.
Còn với nông dân, chúng ta luôn nói nhiều đến chuỗi cung ứng, chuỗi liên kết..., nhưng nếu không có bàn tay của Nhà nước thì người dân và doanh nghiệp khó có thể làm được gì. Nó phụ thuộc vào nỗ lực của Việt Nam trong cải cách thể chế, tạo môi trường kinh doanh tốt, thuận lợi và công bằng với các doanh nghiệp.
Do đó, tôi lo lắng các hiệp định TPP, FTA nếu không có những sách lược tốt thì cái lợi chủ yếu rơi vào tay nhà đầu tư nước ngoài và một nhóm rất nhỏ người Việt Nam chứ không phải là đa số dân Việt.
Vậy theo bà, Việt nam cần phải làm gì để có thể tận dụng được tốt hơn những cơ hội từ TPP?
- Trước hết là bài toán cải tiến công nghệ. Trong các nước tham gia TPP thì Việt Nam xếp ở hàng thấp nhất về trình độ công nghệ dù đây là yếu tố mà ai cũng biết là vô cùng quan trọng đối với năng lực cạnh tranh. Đây là vấn đề thuộc về tầm quốc gia và phải được Nhà nước ưu tiên quan tâm chứ không hoàn toàn thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp.
Vấn đề cấp thiết thứ hai là Việt Nam phải cải cách thể chế thật quyết liệt vì đây đang là lực cản với sự phát triển của doanh nghiệp. Việc cải cách thể chế này phải được triển khai ở từng vị trí trong bộ máy Nhà nước và cần phải đặt ra yêu cầu huấn luyện lại cán bộ. Nếu không sẽ không có thay đổi gì vì người này chờ người kia, và không ai chịu trách nhiệm, mọi thứ sẽ giẫm chân tại chỗ.

Doanh nghiệp khổ bởi vì thủ tục kiểm tra của hải quan

Trong một vài năm trở lại đây, ngành hải quan được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá có nhiều đột phá và đổi mới nhất, nếu so với các dịch vụ công khác như thuế và bảo hiểm xã hội.

Quy định kiểm tra chuyên ngành cứng nhắc với một số hàng hóa trước khi thông quan đã làm mất thời gian, tốn chi phí và gây bức xúc cho nhiều doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tại buổi đối thoại với lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan diễn ra ngày 29/10, nhiều doanh nghiệp cho biết họ cảm thấy "mệt mỏi" và "vất vả" với những thủ tục rườm rà của quy định kiểm tra chuyên ngành trước khi thông quan.

doanh-nghiep-kho-vi-thu-tuc-kiem-tra-cua-hai-quan
Đại diện Công ty Nam Đô phản ánh những rườm rà của thủ tục kiểm tra chuyên ngành khi thông quan. Ảnh: T.L.
Theo quy định, một số mặt hàng buộc phải được kiểm tra về tiêu chuẩn chất lượng trước khi thông quan, trong số đó có mặt hàng dệt may và thuốc bảo vệ thực vật. Là đơn vị nhập khẩu cả hai mặt hàng này, bà Trịnh Tú Anh - Giám đốc Công ty TNHH thương mại và Xây dựng An Đô - cho biết thời gian và chi phí phát sinh cho việc kiểm tra chuyên ngành này rất lớn.
Với mặt hàng dệt may, bà Tú Anh cho biết trong 9 tháng qua phải nộp tổng cộng 620 triệu đồng để kiểm định tại Viện Dệt may. "Chúng tôi thường xuyên phải đăng ký lấy mẫu nhanh nên chi phí lại càng thêm tốn kém. Chưa kể tôi phải mất một nhân viên chỉ chuyên đi phục vụ hoạt động kiểm tra chuyên ngành cứ lặp đi lặp lại này. Một ngày 10 xe nằm ở cửa khẩu, chi phí bến bãi cũng đã 5 triệu một ngày, rồi tiền trả cho lái xe... Trong khi đó, theo thống kê của ngành mình, chưa đến 1% lô hàng có vấn đề. Vậy tại sao cứ áp dụng quy định này gây tốn kém cho doanh nghiệp", vị nữ doanh nhân này cho biết.
Với mặt hàng thuốc bảo vệ thực vật, theo đại diện công ty này, việc kiểm dịch với các quy định hiện này là hoàn toàn vô nghĩa và mang tính hình thức. "Xe khi vào bãi, chỉ đăng ký kiểm dịch và nộp lệ phí là xong chứ không có xử lý kiểm dịch gì cả. Theo tôi việc này chỉ có ý nghĩa khi xác định đang có dịch bệnh mà thôi", bà Tú Anh cho biết.
doanh-nghiep-kho-vi-thu-tuc-kiem-tra-cua-hai-quan-1
Lãnh đạo Bộ Tài chính lắng nghe bức xúc của từng doanh nghiệp. Ảnh: T.L.
Tại buổi đối thoại, bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam cũng cho biết đây là khó khăn của nhiều doanh nghiệp. Bà kể, có công ty hàng chục năm nay chỉ nhập khẩu duy nhất một sản phẩm làm gia công nhưng lúc nào cũng phải làm thủ tục kiểm định gây tốn kém thời gian cho doanh nghiệp.
Dự buổi đối thoại với doanh nghiệp có đại diện Tổng cục Hải quan, Thuế nhưng Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn vẫn xung phong trả lời trực tiếp tất cả các chia sẻ, kiến nghị của từng doanh nghiệp. Vị lãnh đạo này thừa nhận đây không phải là bức xúc của riêng một vài doanh nghiệp và những rườm rà trong thủ tục kiểm tra chuyên ngành là vấn đề trọng tâm mà ngành tài chính sẽ tìm phương án cải thiện. Ông cho biết trong số 7 triệu tờ khai hiện nay, chỉ khoảng 38% tờ khai phải thực hiện khâu kiểm tra này do quy định. "Mặc dù vậy so với các nước trong khu vực, tỷ lệ này vẫn còn cao. Tuy nhiên, với một số mặt hàng, quy định này vẫn là cần thiết", ông nói.
Ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết giữa tháng 9, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ Đề án nâng cao hiệu lực, giảm thời gian chi phí thông quan cho doanh nghiệp và văn bản này đang được lấy ý kiến trước khi ban hành. "Chúng tôi sẽ đầu tư phương tiện con người với cơ chế sửa đổi để làm sao khâu kiểm tra tại cửa khẩu nhanh nhất có thể", ông nói.
Đại diện Bộ Tài chính cho biết có thể sẽ giảm tần suất và yêu cầu kiểm tra chuyên ngành khi thông qua với những hàng hóa nhập khẩu trực tiếp nhưng với một số cần kiểm soát đặc biệt thì vẫn phải giữ nguyên để đảm bảo an toàn.
Hội nghị đối thoại doanh nghiệp được tổ chức thường niên bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI và Bộ Tài chính. Chủ tịch VCCI ông Vũ Tiến Lộc đánh giá cao việc lãnh đạo ngành tài chính ngồi rà soát từng thông tư, nghị định... để cắt giảm thủ tục hải quan, thuế cho doanh nghiệp vừa qua.
Tuy nhiên, ông Lộc vẫn đề nghị Bộ Tài chính nên tìm cách khuyến khích các hộ kinh doanh đăng ký thành doanh nghiệp chính thức để phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. "Nhiều hộ kinh doanh tôi biết quy mô còn lớn hơn cả doanh nghiệp mà họ vẫn không chịu đăng ký kinh doanh. Cần khuyến khích họ chuyển thành doanh nghiệp, để minh bạch hơn. Nếu li ti mãi, không chính thức mãi sẽ không bao giờ lớn lên được để chơi với thế giới trong chuỗi giá trị này", ông Lộc nói.

Ông Trương Văn Phước nói: 'Đừng để sếp ngân hàng 0 đồng vừa làm vừa run'

Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia - Trương Văn Phước vừa có cuộc trao đổi với VnExpress xung quanh câu chuyện tái cơ cấu các nhà băng được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng.

Một không gian rủi ro nhất định để người điều hành tự tin quyết định cho vay thay vì phải nơm nớp lo sợ sẽ là cơ hội để các ngân hàng 0 đồng sớm gượng dậy.

- Từng đi "biệt phái" tại Eximbank khi ngân hàng này bên bờ vực phá sản, nợ xấu có lúc lên tới 75%..., giờ ông đánh giá gì về tình hình tổn thất và khả năng vực dậy của 3 "nhà băng 0 đồng" là Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Đại Dương và Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu?
- Theo tôi biết, các khoản cho vay của 3 ngân hàng này đều có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, vấn đề lớn là chúng có tình trạng pháp lý chưa đầy đủ, dẫn đến việc họ phải trích lập dự phòng nhiều, làm cân đối thu chi trở nên khó khăn. Cũng vì lẽ đó mà hiện xuất hiện các quan điểm khác nhau về tổn thất. 
ong-truong-van-phuoc-dung-de-sep-ngan-hang-0-dong-vua-lam-vua-run
Với kinh nghiệm xử lý Eximbank trước đây, ông Trương Văn Phước tin rằng 3 ngân hàng 0 đồng có thể cần 3-5 năm để có lãi. Ảnh: Quý Đoàn
Khi đánh giá giá trị tài sản, cổ phần của các ngân hàng 0 đồng, các bên kiểm toán độc lập và phần lớn mọi người đều nhìn nhận, cứ tài sản không có giấy tờ sở hữu hợp pháp là loại ra và coi như trị giá bằng 0. Theo tôi đây là một quan điểm không phù hợp. Tuy về mặt pháp lý nó chưa hoàn thành nhưng giá trị vật chất, giá trị tiền tệ kết tinh thì vẫn phải thừa nhận. 
Năm 2000, khi chấn chỉnh Eximbank tôi cũng phải xử lý rất nhiều nợ xấu, trong đó có những tài sản của Công ty Minh Phụng không có giấy tờ hợp pháp và giá trị của nó cũng bị tính bằng 0. Tôi nghĩ nếu có sự hợp tác của các Bộ ngành trong việc xác lập lại giá trị pháp lý cho chúng thì giá trị tài sản sẽ phản ánh đúng bản chất. Vì thế tôi tin việc mất vốn và tổn thất của các ngân hàng 0 đồng không lớn như con số hiện nay ta đánh giá.
- Theo ông, đâu là khó khăn lớn nhất của các ngân hàng 0 đồng hiện nay?
- Việc đầu tiên và khẩn cấp là Ngân hàng Nhà nước và các cán bộ của những ngân hàng thương mại Nhà nước được chỉ định phải bằng mọi cách "cầm máu", ngưng lỗ để cân bằng thu chi. Sau đó đến bước xử lý nhanh nợ xấu. Dù làm những bước nào thì các ngân hàng này vẫn cần những người điều hành có tay nghề giỏi. Con người là yếu tố quyết định việc cứu các nhà băng này có thành công hay không. 
Tuy nhiên, cần có một cơ chế đặc thù cho những người này để họ tự tin đưa ra quyết định tín dụng mới mà không phải nơm nớp lo sợ. Khi cho vay, không có ngân hàng nào tự tin rằng sẽ không xảy ra rủi ro và không có nợ xấu cả. Nhưng thử tưởng tượng đội bóng đang thua 3-0 ở phút thứ 70 mà các cầu thủ không dám xông lên tấn công bởi sợ thủng lưới thêm bàn nữa sẽ bị quy trách nhiệm nặng nề thì không thể nào gỡ các bàn thua. 
Đó chính là vấn đề mà 15 năm trước tôi đối mặt khi chấn chỉnh Eximbank. Nếu vì an toàn cá nhân, tôi sẽ chỉ cho vay dựa trên khoản có tài sản thế chấp. Nhưng an toàn cho tôi thì làm sao ngân hàng có thể cạnh tranh để mở rộng tín dụng, bù đắp thua lỗ và gỡ các bàn thắng được? Vì vậy cần cởi bỏ tâm lý cho các cán bộ điều hành ngân hàng 0 đồng, cho họ một không gian rủi ro nhất định để họ hoạt động. 
- Vậy theo ông nên cởi trói tâm lý cho các cán bộ điều hành ngân hàng 0 đồng như thế nào mà vẫn hạn chế được những rủi ro?
- Hồi đó, những người tham gia chấn chỉnh củng cố Eximbank, đặc biệt là tôi - tổng giám đốc - có một cơ chế theo dõi giám sát riêng của Ngân hàng Nhà nước. Miễn chứng minh được quyết định cấp tín dụng có cơ sở về mặt kinh tế, động cơ cho vay trong sáng là vị tổng giám đốc được cho vay mà không phải nơm nớp lo sợ. Ngày đó, tổ giám sát đặc biệt mà Ngân hàng Nhà nước cử vào theo dõi giám sát từng ngày từng giờ, họ xem từng hoạt động và từng hợp đồng tín dụng mới phát sinh của Eximbank.
- Theo ông mất bao lâu để các ngân hàng 0 đồng "vươn lên mặt đất" và có lãi?
- Thời gian cần để phục hồi lại 3 ngân hàng này theo tôi từ 3-5 năm. Tuy nhiên, đó là với điều kiện có hai nhân tố quan trọng: con người và cơ chế. Đội ngũ quản trị mới không chỉ có tay nghề mà cần còn có đạo đức và họ phải được trao một không gian rủi ro nhất định để "tấn công" gỡ bàn thua cho ngân hàng như tôi vừa nói. 
Ngoài ra, về mặt cơ chế, Ngân hàng Nhà nước có thể cho họ một lãi suất tái cấp vốn thấp để họ có nguồn vốn, hỗ trợ họ quá trình hoàn thiện thủ tục hồ sơ, giấy tờ cho tài sản đảm bảo hay miễn giảm tiền thuế nhà cửa đất đai..., kể cả có thể thanh toán ngay các khoản nợ mà VAMC mua của họ.
Tại sao lại được ưu tiên như vậy? Bởi vì tôi đang chữa căn bệnh mà các tế bào trên cơ thể này chính là người dân gửi tiền. Nếu cứu được cơ thể ấy bằng các liều thuốc dù là miễn phí đi chăng nữa thì mục tiêu cuối cùng vẫn là tôi đã cứu bao nhiêu lợi ích của người gửi tiền.
- Việc Ngân hàng Nhà nước xử lý 3 tổ chức trên bằng cách mua lại cổ phần với giá 0 đồng, vẫn tạo ra những ảnh hưởng về mặt tâm lý với cổ đông của các ngân hàng khác đang hoạt động bình thường. Họ luôn lo lắng và chất vấn lãnh đạo các ngân hàng mình đầu tư về khả năng bị mua lại tương tự như VNCB, OceanBank hay GPBank. Theo ông, làm sao để giải tỏa tâm lý này?
- Đương nhiên, cách làm này không nên lạm dụng bởi không chỉ ở Việt Nam, nước ngoài họ cũng lựa chọn việc mua lại một nhà băng rất dè dặt. Nhưng nếu Ngân hàng Nhà nước không mua lại cổ phần của các nhà băng này thì điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn chỉ còn lại việc cho ngân hàng phá sản. Đó lại là giải pháp không khả thi cả về mặt pháp luật lẫn đạo lý trong giai đoạn này.
Việc các cổ đông băn khoăn lo nghĩ cũng là dễ hiểu bởi đó là tiền bạc, tài sản của họ. Nhưng tôi nghĩ với những kinh nghiệm đã có được, với quá trình tái cơ cấu hệ thống đang diễn ra như hiện nay, khả năng để xảy ra những sự cố như vậy vô cùng khó. 

Venezuela bán vàng bởi vì hết tiền

Venezuela phải trả khoảng 15,8 tỷ USD nợ từ nay đến cuối năm 2016.

Nguồn vàng dự trữ của Venezuela giảm mạnh trong năm 2015, khi nước này cần tiền trả nợ và duy trì các chương trình phúc lợi.

Tuy nhiên, tài chính của họ đang cạn kiệt. Dự trữ ngoại hối chỉ còn 15,2 tỷ USD, thấp nhất từ năm 2003, và phần lớn lại bằng vàng. Chỉ có gần một tỷ USD là tiền mặt, CNN cho biết.

Tuy vậy, ngay cả dự trữ vàng của Venezuela cũng đang giảm rất nhanh. Hồi tháng 2, Chính phủ cho biết có 14 tỷ USD vàng. Đến tháng 5, con số này chỉ còn 11,7 tỷ USD, tương đương 70% tổng dự trữ. Và từ đó, họ chưa công bố thêm lần nào.
"Venezuela sẽ phải bán một phần vàng để trả nợ. Dự trữ tiền mặt của họ gần như bằng 0 rồi", Edward Glossop – nhà kinh tế học các thị trường mới nổi tại Capital Economics cho biết.
venezuela-ban-vang-vi-het-tien
Phần lớn dự trữ ngoại hối của Venezuela là bằng vàng. Ảnh: Timeslive
Venezuela phụ thuộc rất lớn vào nguồn thu từ dầu mỏ, để thúc đẩy kinh tế và trả nợ. Vì vậy, khi giá dầu xuống thấp, nước này bị thất thu nghiêm trọng. Họ chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc bán vàng dự trữ để trả nợ, các chuyên gia cho biết.
Giới phân tích nhận định dù có dự trữ dầu lớn nhất thế giới, Venezuela vẫn có thể trở thành nền kinh tế tệ nhất toàn cầu. Đồng bolivar nước này đang lao dốc, lạm phát trên 100% và các nhu yếu phẩm nhập khẩu như giấy vệ sinh cũng thiếu thốn. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo kinh tế Venezuela co lại 10% năm nay.
Trong khi đó, Chính phủ Venezuela vẫn tiếp tục tăng chi cho phúc lợi xã hội, trợ giá thực phẩm và cung cấp dịch vụ y tế miễn phí. Những chính sách này gần như không thể duy trì khi giá dầu lao dốc.
"Mấu chốt là việc chi tiêu này không bền vững, khi giá dầu dưới 50 USD. Họ cần phải kiềm chế", Win Thin – Giám đốc các thị trường mới nổi tại Brown Brothers Harriman cho biết. Thin dự báo Venezuela rồi sẽ phải giảm chi để tránh vỡ nợ. Tuy nhiên, ông cũng tiết lộ các thị trường tài chính đều đang nghiêng về khả năng nước này vỡ nợ.
Hiện tại, có 2 cách có thể cứu Venezuela. Một là giá dầu tăng, nhưng việc này khó xảy ra trong ngắn hạn. Hai là các đồng minh chính của nước này như Trung Quốc và Nga tình nguyện trả nợ thay. Tuy nhiên, chính Nga cũng đang gặp vấn đề về kinh tế, và có vẻ chẳng thể cứu được nước này. Trung Quốc thì năm ngoái đã hỗ trợ hàng tỷ USD rồi, và có thể tiếp tục cứu trợ nữa. Tuy nhiên, phụ thuộc vào Trung Quốc trong thời điểm nền kinh tế lớn nhì thế giới cũng đang chậm lại là điều khó bền vững.
Nhiều nhà phân tích thì cho rằng tình cảnh Venezuela hiện tại là hậu quả của quản lý kém. "Họ là Chính phủ kiểu gì mà đẩy một đất nước từ có dự trữ dầu lớn nhất thế giới đến bờ vực phá sản vậy", Russ Dallen tại hãng tư vấn đầu tư LatInvest than thở. LatInvest là một trong những công ty đang đổ tiền vào Venezuela.

Giải phóng mặt bằng ở sân bay Long Thành không 'hỗ trợ' giới đầu cơ

Tại hội thảo cơ chế đặc thù với công tác đền bù, giải phóng mặt bằng sân bay Long Thành ngày 30/10, Tiến sĩ Trần Du Lịch - Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM cho biết tới nay, tỉnh Đồng Nai đã xây dựng khung chính sách giải phóng mặt bằng và công bố cho người dân. 

Để đảm bảo hiệu quả và công bằng, các chuyên gia cho rằng chính sách đền bù cần tách bạch những người dân địa phương cần hỗ trợ với giới đầu cơ đất.

"Việc thực hiện đã có cố gắng nhưng cần khẩn trương hơn nữa. Với tình hình sân bay Tân Sơn Nhất hiện nay, dự án Cảng hàng không Long Thành tiến hành sớm được ngày nào, người dân được nhờ sớm ngày đó", vị đại biểu này đề xuất. 

Ông Trần Du Lịch cho rằng, đất cần giải phóng mặt bằng cho sân bay Long Thành bao gồm đất nông nhiệp của dân, đất lâm trường của Nhà nước và đất ở. Nhưng thực tế, đất của các nhà đầu cơ cũng rất lớn. Do đó, chính sách giải tỏa phải tạo khác biệt giữa đền bù người dân và giới đầu cơ.
"Lâu nay, chính sách của chúng ta lại khuyến khích đầu cơ đất nông nghiệp, đền bù theo giá tiền trao cháo múc. Có nhiều dự án phần hỗ trợ còn lớn hơn phần đền bù. Như vậy là chính sách bất hợp lý. Cần hỗ trợ tại chỗ cho người dân sinh sống, không thể hỗ trợ cho người tận TP HCM mua đất", ông Trần Du Lịch nói. 
giai-phong-mat-bang-san-bay-long-thanh-khong-ho-tro-gioi-dau-co
Rừng cao su khu vực sân bay Long Thành. Ảnh: Hoàng Trường
Trước vấn đề khó khăn về vốn giải phóng mặt bằng khoảng 30.000 tỷ đồng, chuyên gia này cho rằng, cần tách dự án giải phóng mặt bằng ra khỏi việc xây dựng sân bay để huy động vốn thực hiện trước. Hằng năm, tỉnh Đồng Nai đóng góp ngân sách trung ương và để lại tỉnh với tỷ lệ 49/51. Nay địa phương có thể xin cơ chế giữ lại nguồn ngân sách trung ương để tiến hành giải phóng mặt bằng theo từng giai đoạn. 
Cũng lo ngại thiếu vốn cho giải phóng mặt bằng, Tiến sĩ Trương Văn Phước - Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia gợi ý, ngân sách không đáp ứng được dòng tiền thì phải nghĩ tới một cách huy động vốn khác. Đó là cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm với hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu. 
"5.000 hộ dân khu vực sân bay Long Thành có thể mua những trái phiếu đó. Họ được đền bù 5 tỷ đồng thì có thể mua trái phiếu 2 tỷ đồng, hằng tháng được hưởng lãi suất", ông Trương Văn Phước gợi ý. 
Ngoài ra, vị này cũng cho rằng tỉnh Đồng Nai và Bộ Giao thông Vận tải cần có đề án xây dựng khu đô thị. Từ đó, 15.000 người dân sống trong khu vực sẽ trở thành thị dân trong tương lai, là lực lượng lao động chính của sân bay Long Thành. 
Nhận xét 100% hộ dân ủng hộ dự án thì quá trình giải phóng mặt bằng sẽ có nhiều thuận lợi, song ông Đào Trung Chính - Phó tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai cũng băn khoăn về tính minh bạch trong công tác triển khai. Vị này cho rằng cần xã hội hóa trong việc định giá đất, huy động thêm các công ty tư vấn định giá đất có uy tín. 
Theo ông Chính, hiện nay việc khiếu nại bồi thường chủ yếu là về giá đất bồi thường. Trong khi giải quyết khiếu nại, vai trò của công ty tư vấn giá đất và người có đất bị thu hồi cần nhấn mạnh hơn để có cơ chế bồi thường khách quan. Ngoài ra, cần có sự tham gia của người trực tiếp có đất bị thu hồi từ khâu đó đạc kiểm đếm đến đến quyền lựa chọn của người dân về nơi ở mới. 
Trước đó, ông Đinh Quốc Thái - Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho hay, địa phương đã tổ chức tham vấn ý kiến đại diện của 4.730 hộ dân với gần 15.000 nhân khẩu và 26 tổ chức bị ảnh hưởng bởi dự án bằng phiếu khảo sát. Kết quả 100% đồng ý với chủ trương thực hiện dự án. Tuy nhiên, người dân mong muốn khi thực hiện cần bồi thường thỏa đáng, đẩy nhanh tiến độ bởi họ đã chờ đợi hàng chục năm qua. Tỉnh Đồng Nai đang vướng về các quy định của pháp luật bởi dự án phải được phê duyệt mới được giải phóng mặt bằng và có nguồn vốn để thực hiện. 
Việc xây dựng sân bay Long Thành cần thu hồi 5.000 ha đất, ảnh hưởng cuộc sống khoảng 4.730 hộ dân. Tỉnh Đồng Nai cho biết đã có quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ với tổng giá trị 30.782 tỷ đồng. Tổng mức đầu tư xây dựng khu tái định cư khoảng 5.390 tỷ đồng.
Toàn cảnh siêu dự án Sân bay Long Thành
giai-phong-mat-bang-san-bay-long-thanh-khong-ho-tro-gioi-dau-co-1

Thuận Kiều Plaza trước lựa chọn cải tạo hay là phá dỡ

Tọa lạc tại số 190 mặt tiền đường Hồng Bàng (quận 5), Thuận Kiều Plaza được đánh giá là một trong những cao ốc có vị trí vàng tại TP HCM. 

Sau khi bị đổi chủ, số phận của tổ hợp dự án 60 triệu USD vẫn chưa rõ ràng và đang đứng trước nhiều đồn thổi cải tạo hay đập bỏ.

Dự án được khởi công năm 1994, hoàn thành năm 1998, cao 33 tầng, tổng diện tích sàn xây dựng 100.000 m2.

Công trình do Công ty xây dựng thương mại Sài Gòn 5 (nay giao về cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn) hợp tác cùng Công ty Kings Harmony Intl Ltd (Hong Kong) xây dựng, tổng vốn đầu tư gần 60 triệu USD. Dự án gồm 3 tòa tháp có chức năng căn hộ (gần 650 căn), văn phòng cho thuê, trung tâm thương mại - giải trí, nhà xe và các tiện ích khác. Được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt quận 5 và trở thành trung tâm mua sắm sầm uất, song hai thập niên qua, Thuận Kiều Plaza khá hoang vắng, không mấy thành công.
thuan-kieu-plaza-truoc-lua-chon-cai-tao-hay-pha-do
Trung tâm thương mại Thuận Kiều Plaza được Vạn Thịnh Phát giới thiệu là một trong 7 cơ sở kinh doanh của tập đoàn này. Ảnh chụp màn hình ngày 29/10.
Trung tuần tháng 10/2015 cao ốc này trở thành tâm điểm dư luận khi có thông tin một nữ đại gia bất động sản, người đứng đầu Công ty Vạn Thịnh Phát đã thâu tóm cả dự án. Trên trang web của Vạn Thịnh Phát còn lưu lại thông tin 7 cơ sở kinh doanh, một trong số đó là Thuận Kiều Plaza. Chủ đầu tư mới là Công ty cổ phần An Đông (thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) đang tiến hành thu hồi mặt bằng và chuẩn bị đập bỏ tòa nhà. Một chuyên gia cấp cao của ngành xây dựng thậm chí còn nhắc đến khả năng tháo dỡ cao ốc này chỉ là chuyện sớm muộn vì dù cải tạo hay tháo dỡ, kinh phí đều khá lớn.
Tuy nhiên, ngày 29/10, đại diện chủ đầu tư mới của Thuận Kiều Plaza (quận 5, TP HCM), Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư An Đông - Hồ Xuân Dũng khẳng định: "Doanh nghiệp đã mua lại tòa nhà và đang lên phương án cải tạo lại trung tâm thương mại này chứ không đập bỏ".
Ông Dũng giải thích thêm, doanh nghiệp sẽ cải tạo lại dự án theo đúng công năng, đảm bảo phù hợp với nhu cầu hiện nay. Theo đó, kết cấu trần trung tâm thương mại thấp quá, trở nên lỗi thời, phải sửa lại. Yêu cầu phòng cháy chữa cháy của trung tâm thương mại 20 năm trước khác với bây giờ cũng phải đổi, điều chỉnh lưu thông không khí sao cho thoải mái. Kế đến, doanh nghiệp sẽ tiến hành xác định nhu cầu thực tế của cư dân để cải tạo cho phù hợp.
Trước câu hỏi về chức năng khác của cao ốc này là căn hộ, văn phòng cho thuê vị này cho hay: "Các phương án vẫn đang được xem xét, chưa có gì chắc chắn. Bài toán không dễ, nếu dễ thì đã làm cách đây 20 năm rồi".
thuan-kieu-plaza-truoc-lua-chon-cai-tao-hay-pha-do-1
Cao ốc phức hợp Thuận Kiều Plaza. Ảnh: Mr True
Theo tìm hiểu của VnExpress, có nhiều yếu tố: thiết kế, kiến trúc, phong thủy... tác động đến sự không thành công của cao ốc Thuận Kiều Plaza trong 20 năm tồn tại, một trong số đó là dự án được xây dựng trên khu đất thuê có thời hạn quá ngắn.
Năm 2014, trong một tờ trình của Sở Tài chính TP HCM đề xuất UBND thành phố xác định nghĩa vụ tài chính của dự án Thuận Kiều Plaza, cơ quan này khẳng định tiền sử dụng đất của cao ốc phức hợp này phải được tính lại theo quy định hiện hành. Lý do là đã hết thời hạn thuê. 
Cụ thể, dự án được Thủ tướng ký quyết định cho thuê đất vào năm 1996, trong đó xác định rõ thời hạn thuê đất là 20 năm kể từ ngày cấp giấy phép kinh doanh là ngày 31/1/1994. Trong suốt thời gian đó, Tổng Công ty Địa ốc Sài Gòn TNHH MTV và Kings Harmony Int’l MTV chịu trách nhiệm trả tiền thuê đất. Điều này có nghĩa là đến tháng 2/2014, khu đất mà cao ốc Thuận Kiều Plaza tọa lạc đã hết thời hạn thuê và chủ đầu tư sẽ bị tính lại tiền thuê đất nếu tiếp tục khai thác tòa nhà.
Trong 20 năm tồn tại, Thuận Kiều Plaza được thành phố tính tiền thuê đất theo nhiều khung giá khác nhau. Trong 4 năm đầu (1995-1999), tiền thuê là 13,6 USD mỗi m2 một năm. Từ năm 1999, tiền thuê đất giảm xuống còn 7,8 USD. Với thực trạng bảng giá đất của TP HCM năm 2015 đã điều chỉnh tăng mạnh, chắc chắn tiền thuê đất của dự án này cũng bị đội lên đáng kể.
Ngày 29/10/2015, một lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM xác nhận: “Thành phố tiếp tục cho Thuận Kiều Plaza thuê lại khu đất với thời hạn 50 năm và đang trong quá trình thẩm định giá”.
Theo một chuyên gia bất động sản có gần 2 thập niên quan sát thị trường TP HCM, Công ty An Đông thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát là chủ nối tiếp của Thuận Kiều Plaza sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề tồn tại của dự án này. "Đó không chỉ là vấn đề cải tạo hay tháo dỡ, chuyện chưa đến hồi kết, rồi đánh thức tiềm năng của cao ốc nhiều thập niên hoang vắng mà còn phải chi thêm số tiền khủng để thuê khu đất này với giá hiện hành", ông đánh giá

Lời xin lỗi của người Nhật - bài học cải thiện về thủ tục hành chính

Tại Nhật, xin lỗi đã trở thành một văn hóa. Ngay ở các cơ quan công quyền, nếu nhân viên không thể trả lời hay giúp người dân, doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục, lời xin lỗi cũng được đưa ra vì họ đã không hoàn thành nhiệm vụ. 

Giữa thảm họa động đất-sóng thần năm 2011 tại Nhật, thế giới đã cảm kích trước hình ảnh lãnh đạo Điện lực Tokyo cúi đầu xin lỗi người dân về những thiệt hại tại nhà máy điện hạt nhân...

Rất ít người muốn phải cúi đầu xin lỗi, do đó họ luôn phục vụ bằng thái độ tận tâm và trả lời thắc mắc đến khi người dân hiểu thì thôi.

Đối với Việt Nam, những lời xin lỗi của công chức - những người hằng ngày đang thực thi công việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, khi thủ tục chậm trễ còn khá hiếm. “Việt Nam khác với nhiều quốc gia trên thế giới. Như ở Nhật Bản, cán bộ công vụ rất lễ phép với người dân. Nếu làm thủ tục muộn, họ sẽ có công văn giải thích và xin lỗi. Một hành động rất lễ nghĩa”, bà Nguyễn Minh Thảo - Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) trao đổi với VnExpress.
loi-xin-loi-cua-nguoi-nhat-bai-hoc-cai-thien-thu-tuc-hanh-chinh
Chuyên gia cho rằng dư địa để cải cách thủ tục hành chính vẫn còn rất lớn. Ảnh:HC
Tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2015, Phó Viện tưởng CIEM Võ Trí Thành cho rằng con người là yếu tố cần lưu tâm nhất để tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển thời hội nhập. “Điều tôi đặc biệt lo ngại khi hội nhập không phải là doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp nếu không cạnh tranh được thì chết. Nhưng 100.000 doanh nghiệp hôm nay chết, ngày mai sẽ có 200.000 doanh nghiệp khác mọc lên. Mà tôi lo ở con người”, ông Thành nói.
Đại diện CIEM cho hay nhiều cán bộ vẫn có suy nghĩ họ làm việc cho cơ quan Nhà nước, được quyền xử lý hay không xử lý các vụ việc, hoặc do chính sách, năng lực cán bộ hạn chế khiến thủ tục rắc rối. Mặt khác, doanh nghiệp lại có tâm lý khi đến cơ quan công quyền là đi xin làm thủ tục, nhờ cậy làm thủ tục, chứ không phải được phục vụ vì bản thân đã trả phí, dẫn đến cán bộ công quyền càng có cơ hội sai trái.
Chẳng hạn, báo chí gần đây phản ánh một nhà đầu tư nước ngoài bị đòi 15.000 USD (khoảng 330 triệu đồng) mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư. “Không một luật nào quy định phải đưa 15.000 USD mới được cấp đăng ký kinh doanh. Đây là do cán bộ công vụ gây khó khăn. Cần chế tài với những hành vi cản trở doanh nghiệp làm thủ tục hành chính”, bà Thảo nhận xét.
Tại cuộc đối thoại giữa hải quan và doanh nghiệp ngày 29/10, dại diện công ty An Đô cũng bộc bạch mấy năm gần đây cảm thấy mệt mỏi trong việc kiểm tra chuyên ngành. Hoạt động trong lĩnh vực tiêu dùng và thuốc bảo vệ thực vật, chỉ trong 9 tháng đầu năm, doanh nghiệp đã phải nộp 620 triệu đồng và cử thêm một nhân viên chuyên đảm nhiệm việc này.
"Các thủ tục kiểm tra chuyên ngành không linh động bởi cùng một mẫu hàng mà vẫn phải kiểm tra đi kiểm tra lại. Ví dụ như cái ô che mưa nắng cũng phải kiểm tra chuyên ngành, một tấn vải chỉ mất một vài triệu tiền thuế nhưng mất 8 triệu kiểm tra chuyên ngành, cho nên các doanh nghiệp nhỏ chỉ muốn lậu thuế cho nhanh, đỡ tốn kém", vị này bức xúc.
Những lời kêu than như vậy đã được bày tỏ nhiều lần trong các cuộc đối thoại về chính sách và thủ tục hành chính thuế, hải quan do Bộ Tài chính tổ chức nhiều năm qua. Trong bối cảnh ấy, hàng loạt chính sách đã được đưa ra để cải cách thủ tục hành chính, mục tiêu tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi hơn, đặc biệt là Nghị quyết 19 của Chính phủ.
Hệ quả là Ngân hàng Thế giới (WB) ghi nhận môi trường kinh doanh Việt Nam đã tăng 3 bậc so với năm ngoái, xếp thứ 90 trên 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, theo báo cáo Doing Business 2016. "Việc tăng bậc cho thấy nỗ lực của Việt Nam trong quá trình cải cách. Trong báo cáo này, Việt Nam là ngôi sao sáng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương", ông Sebastian Eckart - chuyên gia của Ngân hàng Thế giới chia sẻ.
Ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá doanh nghiệp gần đây đã ghi nhận những đường hướng cải cách, thay đổi mà Chính phủ đề ra, đặc biệt là việc ban hành hai Nghị quyết 19 với tư duy rất mới. "Rõ ràng những nỗ lực chính sách của cơ quan quản lý đã ghi nhận”, bà Thảo đồng tình.
Báo cáo Doing Business 2016 cho biết Việt Nam đã giảm được 40 giờ nộp thuế và 62 giờ nộp bảo hiểm so với năm ngoái. Con số này chưa tính tới tác động của những chính sách mới ban hành, bởi báo cáo chỉ tính toán thời gian doanh nghiệp thực hiện thủ tục thuế trong năm 2014. Hay với khởi sự kinh doanh, chỉ số này cải thiện 6 bậc và có thể còn được xếp hạng cao hơn nếu ghi nhận những thay đổi từ Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/7/2015.
Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn đau đáu chính sách tốt, nhưng quá trình thực thi sẽ ra sao để không còn nghe những tiếng kêu như của các doanh nghiệp trên. Ông Đậu Anh Tuấn cho biết doanh nghiệp vẫn đang kỳ vọng nhiều vào những chuyển biến về sự chuyên nghiệp, thông thoáng của thủ tục hành chính trên thực tế, của từng công chức cụ thể.
Chẳng hạn, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế cần nỗ lực rất lớn và không hề dễ dàng, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng ngân sách đang tạo sức ép lên bộ máy hành thu thuế các cấp. Quan hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp là quan hệ nhạy cảm, bất tương xứng về quyền lực. Tuy nhiên, cải cách trong lĩnh vực thuế dù nhỏ sẽ có những hiệu ứng lớn, tác động đến tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động.
"Tôi biết ngành thuế thời gian qua đã và đang nỗ lực rất lớn để cải cách thủ tục hành chính, giảm định kiến của xã hội đối với ngành. Không gian cải cách còn rất lớn và kết quả cuối cùng phải là sự hài lòng của doanh nghiệp. Thu được thuế nhưng phải thu được lòng dân. Rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực thi, thu hẹp sự lệch pha giữa quyết định hành chính và quyết định kinh doanh là công việc cần phải làm trong thời tới", ông Tuấn nhấn mạnh.
Bà Nguyễn Minh Thảo cho hay Việt Nam vẫn đang ở nửa cuối của bảng xếp hạng môi trường kinh doanh toàn cầu nên càng có áp lực phải thay đổi nhiều hơn nữa. Nghị quyết 19 mới có sự vào cuộc của một số Bộ, cần kêu gọi thêm nhiều Bộ, ngành khác quan tâm, ngoài ra cũng cần sự hưởng ứng của các địa phương để cải thiện các chỉ số, như bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, thành lập doanh nghiệp, nộp thuế, giao thương quốc tế...
Đại diện VCCI đề xuất cải cách không chỉ hướng vào các chỉ số, lĩnh vực mà WB đánh giá mà còn rất nhiều vấn đề đang ảnh hưởng đến gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ.
Ông Tuấn lấy ví dụ quy định kế toán yêu cầu tất cả doanh nghiệp phải có kế toán trưởng, kế toán viên, tuân thủ mẫu biểu sổ sách kế toán như nhau, lập và công bố báo cáo tài chính hàng năm… đang tạo ra gánh nặng lớn về thủ tục cho các doanh nghiệp nhỏ. Việt Nam hiện có gần 42% doanh nghiệp tư nhân doanh thu hàng năm dưới ngưỡng một tỷ đồng và 85% có doanh thu dưới một triệu USD, một tiêu chuẩn rất thấp so với các nước. Sự bất cập này dẫn tới thực trạng là hầu hết các doanh nghiệp không thực hiện hay thực hiện rất hình thức các quy định, vừa gây tốn kém mà không có ý nghĩa trong quản lý Nhà nước.
Bên cạnh đó, chế tài đối với những cán bộ, cơ quan thực thi chưa tốt chính sách cũng cần thực hiện quyết liệt, công khai, bên cạnh việc nêu gương những địa phương, cơ sở làm tốt. "Khi người đứng đầu quyết liệt thì sẽ tạo ra áp lực thực thi. Chẳng hạn, cơ quan có thể lắp camera, ghi âm để xem thái độ phục vụ của công chức. Điều này không hề khó, nhưng quan trọng cần phải quyết tâm chứ không phải lắp camera xong để đó", đại diện CIEM cho hay.
Đối với doanh nghiệp, bà Thảo cho rằng cần phải cập nhật thông tin, chính sách, tìm hiểu quy định luật lệ mới để không bị cơ quan công quyền bắt nạt, đòi hỏi những chi phí không chính thức.
"Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, việc tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn sẽ là cơ hội để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư", bà Thảo nhận xét.

Ôtô nhập khẩu tăng gấp đôi chỉ sau 5 năm

Số liệu được Tổng Cục thống kê công bố cho thấy tổng số xe nhập cảng Việt Nam sau 10 tháng đạt hơn 94.600 chiếc, tương đương khoảng 2,3 tỷ USD. 

Giá trị nhập khẩu xe nguyên chiếc trong 10 tháng đầu năm nay đạt khoảng 2,3 tỷ USD, bằng cả 2 năm trước cộng lại.

So với cùng kỳ 2014, những con số này lần lượt tăng 83% về lượng và 100% về giá trị.

Trước đó trong năm 2014, Việt Nam cũng đã chi gần 1,6 tỷ USD nhập khẩu 72.000 xe. Đây được coi là năm bùng nổ của thị trường ô tô Việt Nam sau 2 năm suy giảm cả về lượng và giá trị do tình hình kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của năm 2015 còn ấn tượng hơn khi chỉ sau 10 tháng, lượng và giá trị ôtô nhập khẩu đã tăng hơn 35% và 46% so với cả năm 2014.
Nếu so với lượng nhập khẩu 27.400 chiếc của năm 2012 (điểm trũng nhất của thị trường), số xe nguyên chiếc nhập trong tháng 10 gấp tới 3,5 lần; còn nếu so với thống kê năm 2010, cả số lượng và giá trị xe đều tăng khoảng 2 lần.
Thời gianSố lượngTrị giá
Năm 201053.100960 triệu USD
Năm 201155.5001,02 tỷ USD
Năm 201227.400615 triệu USD
Năm 201334.978708 triệu USD
Năm 201472.0001,57 tỷ USD
10 tháng 201594.6102,3 tỷ USD
Về thị trường nhập khẩu xe, số liệu thống kê cũng cho thấy những thay đổi đáng kể. Năm 2013 và năm 2014, Hàn Quốc dẫn đầu với lượng nhập bình quân 15.000-16.000 xe mỗi năm. Tuy nhiên, 10 tháng đầu năm nay, Trung Quốc đã vươn lên dẫn đầu với số lượng trên 20.000 xe, trị giá 776 triệu USD. Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) trước đó đã đưa ra dự báo tiêu thụ ôtô tại Việt Nam năm nay có thể đạt mức 200.000 xe.
Từ năm 2013 đến nay, ôtô Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam đã ghi nhận xu hướng tăng mạnh cả về lượng và giá trị. Năm 2013, Việt Nam chỉ nhập chưa tới 4.400 xe (169 triệu USD), thì đến năm 2014, con số này đã lên hơn 13.800, tương ứng 538 triệu USD.
oto-nhap-khu-tang-gap-doi-sau-5-nam
Tăng trưởng thị trường nhập khẩu ôtô của Việt Nam qua các năm.
Bên cạnh đó, ôtô nhập khẩu từ Thái Lan và Ấn Độ cũng tăng mạnh qua các năm. Lượng nhập khẩu ôtô Thái Lan 10 tháng đạt gần 16.900 chiếc xe, tăng 118% so với cả năm 2013; trong khi con số từ Ấn Độ là hơn 12.500 chiếc, tăng gần 10 lần so với cách đây 2 năm.
Xe nhập khẩu tăng mạnh khiến doanh thu và lợi nhuận của hàng loạt các doanh nghiệp ôtô tăng. Lũy kế 9 tháng, doanh thu của Ôtô Hoàng Huy đạt 417 tỷ đồng (tăng 230%); ôtô Trường Long lãi 102 tỷ đồng (tăng 345%); ôtô TMT đạt lợi nhuận 185 tỷ đồng (tăng 422%). Công ty Dịch Vụ Tổng Hợp Sài Gòn chuyên nhập khẩu ôtô cũng công bố lãi 120 tỷ đồng, tăng 115%.
Trao đổi với báo chí ngày 20/10, ông Phạm Đình Thi - Vụ trưởng Chính sách thuế (Bộ Tài chính) cho biết năm 2019, cùng với thuế xe nhập khẩu giảm về 0% theo cam kết ASEAN, giá các loại xe dung tích dưới 1 lít trên thị trường có thể giảm tới 42% so với hiện nay.
Trước đó, Chính phủ chính thức trình Quốc hội thông qua nội dung sửa đổi về thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt. Theo đó, các dòng xe có dung tích dưới 2 lít sẽ giảm thuế từ 45% xuống chỉ còn 25%. Loại động cơ này thường lắp trên những dòng xe phổ thông từ cỡ nhỏ tới cỡ trung.
Theo các nhà nhập khẩu, những mẫu xe dưới 2 lít phổ biến gồm cỡ A như Morning, Grand i10 tới cỡ C như K3, Altis đều có khả năng giảm giá đáng kể. Hiện tại xe ở tầm này thường có giá khoảng 800 triệu trở lại, là mức phù hợp với khả năng tài chính với số đông khách hàng muốn mua xe.
Đông Nam Á và Ấn Độ được coi là trung tâm của các dòng xe nhỏ với giá rẻ. Thuế suất giảm, các nhà nhập khẩu cho rằng các dòng xe nhỏ từ Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia sẽ tràn qua Việt Nam. Nếu dự thảo được thông qua, đến cuối năm 2016, ôtô nhập khẩu nguyên chiếc từ ASEAN loại dung tích dưới 2 lít giá sẽ giảm 2.500-4.000 USD, xe nhập từ Ấn Độ giảm giá 1.500-2.500 USD. Chẳng hạn, Kia K3 phiên bản 1.6 AT giá bán hiện tại vào khoảng 678 triệu đồng, nếu theo dự thảo thuế mới giá bán giảm xuống chỉ còn 584 triệu đồng.